Mùa cà phê đến rồi. Đúng hơn, phải nói là mùa thu họach cà phê đến rồi. Hàng năm, cứ vào khoảng thời gian này trong năm sẽ rất vui và cũng sẽ rất cực nhọc. Vui vì đây là lúc được chứng kiến những thành quả lao động thật sự mang lại. Cực bởi có hàng trăm thứ phải cân nhắc, lo toan, đong đếm và thậm chí là còn phải làm cật lực cả ngày lẫn đêm.
Chớ vội ngạc nhiên khi phải làm cả ngày lẫn đêm nhé. Bởi vì chỉ có hái quả không thôi thì có gì đâu mà khó? Vả lại, trồng cây thì khó chứ hái quả thì dễ không ấy mà! Hãy coi chừng vì cà phê vốn không cánh nhưng vẫn bay như thường. Chưa kể phải tuần tra canh gác thì vẫn còn một loạt các công đoạn sau khi thu hoạch vẫn chờ để được xử lý gấp. Nếu không thì chỉ việc đưa đi bán non là khỏe re rồi.
Ai cũng nói : cà phê Việt Nam là nhứt hạng (robusta) và cao nguyên miền trung là thiên đường và là thủ phủ của cây cà phê nhưng có mấy ai biết được những nỗi niềm ưu tư, trăn trở của chính những người làm ra nó? – Những người trồng cà phê.

Vụ mùa
Thật ra, để có được ly cà phê đậm đà tỏa ngát hương thơm là cả một quá trình miệt mài lao động, của những nhọc nhằn, toan tính, của những niềm vui khi được mùa và mưa thuận gió hòa, của những đau buồn quay quắt và xót xa khi phải chứng kiến thành quả lao động gần như đổ sông, đổ biển, và phải đành đoạn bỏ mặc cho hoang phế hay thậm chí phải triệt hạ để kiếm thứ khác mà làm chỉ vì kế sinh nhai.
Cao nguyên trung phần, với những bình nguyên bao la xanh tươi, là mãnh đất màu mỡ cho biết bao loài động, thực vật sinh sôi nẩy nở. Cây cà phê lại đặc biệt thích nghi với những miền đất này. Chỉ cần đào hố, cho một ít vôi và phân chuồng, rồi xuống cây giống mà lấp đất lại. Chăm sóc khéo thì đến hết năm thứ hai đã bắt đầu đơm hoa, kết trái (trái bói).
Đơn giản chỉ là vậy nhưng nghề này cũng có lắm những gian truân và nỗi niềm trăn trở.
Trước hết, cũng cần có đôi nét sơ lược về các đặc tính đặc trưng của loại cây trồng này.
Giống cà phê : mặc dù đều thuộc họ cà phê (rubiaeceae) nhưng lại có rất nhiều những loài khác nhau. Chúng khác nhau không chỉ ở đặc điểm hình thái và các đặc tính sinh trưởng cũng như khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất canh tác, tập quán thâm canh và khả năng đầu tư kinh tế lâu dài. Cụ thể hơn là nó sẽ quyết định cho việc lựa chọn các mô hình về mật độ trồng, khả năng chăm sóc chế biến, chất lượng và sản lượng dự kiến trong tương lai.
Thuộc vào ba dòng chính : chè (arabica), vối (robusta hay còn gọi là canephora) và mít (excelsa) nhưng cũng có những phân khúc riêng chưa kể đến sự lai tạo giữa các dòng, do tự nhiên hay do chính con người tạo nên, phần lớn cà phê ở đây là cà phê vối. Giống cà phê này có đặc điểm là sinh trưởng rất mạnh, hoa thuộc loài vô tính (tự thụ phấn) và không lại hoa trên gỗ củ. Nói cách khác : nó là loại khá thuần chủng và trong khi chăm sóc thì việc cắt tỉa cành (tạo hình) là một khâu rất quan trọng. Những bông hoa xinh tươi và tỏa ngát hương thơm là thế, nhưng sang năm sau thì tại những đốt cành mang hoa hầu như không có (hoặc rất ít) có hoa để rồi kết trái, tạo thành quả mới. Nếu điều kiện thâm canh mà không tốt thì chuyện sản lượng năm được, năm mất (on - off) là chuyện thường tình. Cái này thì ông WASI – viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp tây nguyên, hay còn gọi là viện EAKMAK. Ổng nghiên cứu nhiều nhưng thực hành thì còn mờ nhạt lắm!
Đất trồng cà phê : do đặc điểm sinh trưởng rất mạnh và là loài cây háo nước nhưng lại không chịu được ngập úng nên việc quy hoạch và thiết kế đất trồng cũng như việc lựa chọn phương hướng và kiểu tưới nhằm đạt được hiệu quả tưới tiêu là điều không bao giờ thừa. Chưa kể đến việc thiết lập các vầnh đai phòng hộ, những hàng cây che bóng khi cây còn non và hạn chế tác hại của sương muối ở thời kỳ ra hoa kết trái, sân phơi, nhà, xưởng sơ chế và kho chứa, thì chi phí đầu tư cho việc tưới tiêu, chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong giá thành của cà phê thương phẩm. Cái này thì ông VAAS – viện nông hóa thổ những rành à nha, nhưng không biết có đóng góp, giúp ích gì cho bà con được bao nhiêu thôi!
Đầu tư thâm canh : mặc dù không mấy kén chọn về đất đai nhưng việc tìm hiểu và có kết quả định tính về mặt thổ nhưỡng cũng quyết định rất lớn đến hiệu suất của việc đầu tư cũng như định hướng cho chất lượng và giá thành thương phẩm về lâu dài. Kết quả định tính về mặt thổ nhưỡng chẳng những giúp cho người trồng hiểu về bản chất của đất trồng trọt mà còn là cơ sở để ta quyết định lựa chọn các loại phân bón và thời điểm bón phân khác nhau nhằm tránh sự quá thừa hoặc quá thiếu các yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Đồng thời, một khi đã thâm canh thì cần phải nhắm đến mục tiêu lâu dài, tránh tình trạng khai thác triệt để hoặc sử dụng nguồn phân vô cơ thúc đẩy quá mạnh sẽ dẫn đến lãng phí hay phá vỡ kết cấu đất, về lâu dài sẽ dẫn đến hiện tượng trơ đất (chai). Bao nhiêu nước, phân đều không đủ vì cây chỉ hấp thụ được một phần. Số còn lại sẽ tồn tại ở dạng khó hấp thu hoặc thẩm thấu hết xuống dưới tầng nước ngầm.
Nguồn nước tưới : cũng đòi hỏi những khảo sát nhất định nhằm đạt được hiệu quả cũng như sự cân bằng nước về lâu dài. Hai giếng nước cùng nằm trên những thửa đất gần nhau nhưng chưa chắc giếng nào sẽ có nước hoặc giếng nào.ít nước, thậm chí là có nhưng không đáng kể. Chưa kể việc khai thác nước ngầm tràn lan sẽ dẫn đến tình trạng phá vỡ các túi nước, gây nên hiện tượng tụt mực nước ngầm. Đó là lý do : cứ một hai năm lại phải khoét giếng sâu hơn.
Sơ chế, bảo quản sau thu hoạch (post-haversting) : đâu có phải chỉ hái về là xong đâu. Còn phải có sân phơi, xay xát rồi sấy (dry proccess) hay tách, ngâm, xay xát rồi sấy (wet proccess). Cái này thì ông PHTI – phân viện công nghệ sau thu hoạch, cũng rất oai nhưng … hình như đang mãi mê nghiên kú!
Đầu ra cho sản phẩm : là một câu hỏi quá lớn và cũng quá nhỏ. Bởi nó chỉ tuân theo nguyên tắc sơ đẳng là : thuận mua – vừa bán. Còn việc sản phẩm đó sẽ phục vụ cho tiêu dùng (consumption) hay cho xuất khẩu (export) thì khó mà phân định được. Các giao dịch bán buôn thông qua thị trường nội địa là chính, nhưng nhân tố quyết định giá trị giao dịch thì lại dựa trên thị trường giao dịch kỳ hạn mãi tận bên London. Bên cạnh đó thì việc đánh giá chất lượng sản phẩm mua bán vẫn dựa trên nguyên tắc mang tính truyền thống xưa nay : R 2–5% !!!
Túm lại là : để trồng được cây cà phê, người nông dân không chỉ cần biết có : đất, nước, giống, phân là đủ (nhất đất, nhì phân, tam cần, tứ giống mà). Họ cần phải được trang bị những kiến thức chuyên sâu hơn, có nguồn thông tin mạch lạc hơn, cần phải có sự hậu thuẩn đắc lực từ các tổ chức, các doanh nghiệp… mà điều này lại trở nên rất mơ hồ và gần như là không có, nếu không nói là có cũng như không. Họ cần phải được đứng chân trong cái hiệp hội của chính mình, nơi mà ở đó họ thể hiện được cái tính trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn một cách thiết thực nhất. Vicofa ư? Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ư? Trung tâm khuyến nông ư hay là ngân hàng và bộ công thương? To, cao và xa xôi quá… Chỉ đơn giản là hiệp hội cà phê việt nam thôi!

Nỗi niềm ưu tư
Nỗi niềm riêng :
Thiên đường hay chỉ là chốn nhân gian thường tình?
Việc phát triển và quy hoạch thiếu tính định hướng đã dẫn đến sự hình thành một thị trường bất ổn định. Công tác khảo sát và báo cáo thống kê chỉ dựa trên hệ thống phương pháp nghiên cứu đã nhiều phần lạc hậu kéo theo các luồng thông tin không chính xác, chậm chạp và bất lợi. Những đầu tư mang đầy tính cảm tính đã gây nên những thiệt hại không nhỏ cả về vật chất cũng như về mặt thời gian.
Trong những năm đầu của thập kỷ 80, do chưa có đầu tư định hướng nên giá trị thương phẩm của cây cà phê chỉ dựa trên các phương pháp phân tích, thông kê và định lượng dựa trên các đánh giá của các nước bạn : Liên xô, Đông Đức, Tiệp Khắc… Sau 30 năm nhìn lại, phương pháp cũng chẳng có những thay đổi khởi sắc đặc biệt nào – vẫn dựa trên các hợp tác, hỗ trợ từ các quốc gia khác. Vào những năm 1985, 1995, 2005 khi giá trị thương phẩm của cà phê đạt đến đỉnh điểm thì diện tích trồng mới tăng vọt đến không ngờ. Nhưng vào những năm 1993, 2003… khi giá cà phê chỉ còn rẻ như bèo, thì người ta đua nhau chặt phá, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng.
Những luồng thông tin tràn lan và mang đầy chất cảm tính đã tạo nên những sân chơi nhỏ, lẻ để các nhà đầu cơ biến thành những mảnh đất thể hiện tính may rủi cực độ (casino) và ngay cả những người có được ít tiền nhưng không có được hạt cà phê nào, cũng mạnh dạn chen chân, ký hợp đồng giao sau (hợp đồng giấy). Hậu quả cuối cùng thì chắc ai cũng biết.
Kinh nghiệm cá nhân, khi được tiếp xúc và trực tiếp tham gia làm việc với các đối tác nước ngoài, mình đã tiếp thu được khá nhiều những điều hay, dở của họ. Điều cần phải suy nghĩ đó là họ làm việc theo một lối tư duy mang nhiều tính thực tiễn hơn. Đã có những lúc trao dổi, thậm chí tranh luận bất phân thắng bại nhưng mình vẫn nhìn ra được những cái hay của họ. Điều đáng nói là họ rất tôn trọng những chính kiến cá nhân. Chẳng hạn như, khi đi khảo sát về mặt thiệt hại mà hạn hán có thể tác động đến năng suất và chất lượng của cà phê, nhóm người trong đoàn đã xắn quần, lội xuống vũng nước bùn đang cạn dần và xem đó như một việc làm hết sức tự nhiên và cần thiết cho quá trình viết báo cáo sau này. Các đối tác nước ngoài luôn có những kết quả khảo sát mới nhất và rất chính xác về tình hình chi tiết của những diễn biến trong nghành mà họ tham gia. Ít thì họ cũng có những nhóm khảo sát (survey team), nhiều thì họ có cả bộ phận phòng ban chuyên khảo sát về diễn tiến cung cầu của những mặt hàng chủ lực (S&D Dept.). Với sự hổ trợ đắc lực của hệ thống GPS, họ tiến hành đo đạc, khảo sát định kỳ các chỉ tiêu : mật độ trồng, năng suất thực tế, năng suất dự kiến, sự thay đối về giống và những yếu tố phụ có thể ảnh hưởng đến sản lượng cuối cùng… Và như vậy, các thông tin mù mờ, lập lờ được trích ra từ các nhận định hay báo cáo của một vài vị nào đó chỉ khiến họ cười khẩy. Năm nào cũng vậy, trước khi vụ mùa đến, họ luôn có những phân tích và định hình chiến lược cho công ty (được báo cáo bởi các nhà chuyên môn mà họ trả lương bằng những dãy số 0 dài ngoằn ngoèo) cộng thêm một hệ thống phân tích thông tin nhằm phục vụ cho mục tiêu đó (LIFFE & NYSE). Điều này thì tưởng cũng nên nhắc tới anh BCEC hay như đang được tung chiêu gần đây là anh SICOM. Trước những luồng tin lạc quan về một vụ mùa bội thu, họ âm thầm ký kết các hợp đồng giao ngay, để rồi sau khi họ gom đủ chỉ tiêu khối lượng (mà bắt đầu mua từ những loại tốt nhất nhé) thì thiên hạ mới tá hỏa chạy đôn, chạy đáo và sẵn sàng trả giá cao để hoàn thành được hợp đồng. Ngược lại, khi những báo cáo trong nước về sự sụt giảm nghiêm trọng của vụ mùa, thì họ lại cười khẩy và cho nhân viên nghỉ ngơi, học hành và để mặc cho thiên hạ giành giựt nhau cái phần hổ lốn nhất đó (đầu mùa thường có sự trộn lẫn hàng của niên vụ cũ và niên vụ mới). Sau khi các đối tác đã dọn dẹp xong và vốn liếng cũng bắt đầu như nắng hạn gặp mưa, họ lại từ từ gom lại (cũng từ những loại ngon nhất nhé) mà vẫn thong thả đảm bảo được chỉ tiêu khối lượng đã được hoạch định ngay từ đầu.
Một hệ thống chằng chịt các về chỉ tiêu chất lượng cũng là một mảnh đất mầu mỡ không kém. Cái nào chẳng là TCVN 4193 nhưng nó khác nhau bởi cái phiên bản ra đời (version). Một TCVN 4193 – 2001 vẫn còn đang được áp dụng trong đánh giá chất lượng khi mua bán. Trong khi đó, ở các nước khác, đã từ lâu người ta phân hạng theo cấp (grade), thì ở Viêt Nam vẫn cứ còn : R1-18, R1-16, R2-5%… rồi dẫn đến việc bổ sung vào danh mục của nó …theo ISO 1447 hay ISO 6673 và chưa nói đến thiết bị đo đếm (mặc dù tất cả đều dựa trên kết quả của phòng Lab). Nhìn lại các nước khác, nhỏ như Indonesia hay thậm chí như Lào, danh mục cà phê rất ít (và có lẽ là vì có quá ít cà phê), nhưng giá trị thương phẩm lúc nào cũng được đánh gía cao hơn dựa theo chứng chỉ nguồn gốc (CO).
—————-
Thôi thì đoạn trường nhân gian vẫn là thế. Mặc kệ ai cứ việc đưa nông dân lên mạng hay tự đánh bóng cái tôi của mình bằng những khẩu hiệu hùng hồn, tê tái. Thiên đường của cà phê lại vẫn cứ là cõi thực.

Một người bạn thưở nhỏ
Nhớ những sáng sớm tinh sương, tiếng chày giã nhịp vang vọng mái nhà sàn bởi những cô gái vui tươi, nhí nhảnh, cả tốp kéo nhau xuống ngồi quanh bếp lửa hồng, đón ly cà phê từ tay bà chủ nhà (mẹ của anh chàng ca sĩ lãng du một thưở Y Yak). Ly cà phê đậm đà, thơm ngát bởi sự giản dị nhưng chắt chiu trân trọng mà họ dành cho mình. Ly cà phê ở đây được làm theo một lối hoàn toàn thủ công. Khi hái thì chỉ lựa trái thật chín, xong thì được rửa qua dưới bến nước cuối thôn, rồi đưa vào cối giã bằng tay. Sau đó, được phơi trên những nong kén và mặc dù chưa rang nhưng đã tỏa hương thơm ngọt ngào. Giã lại một lần nữa sau khi đã phơi khô, để tách lấy hạt riêng ra. Rang thì bằng cái chảo gang với một ít mỡ gà và một ít rượu rhum. Pha thì bằng chiếc ấm nhôm với cái túi lọc (giống chiếc vớ hay còn gọi là tất chân vậy). Không khí ban mai se lạnh và ly cà phê nóng ấm đã làm nên một thiên đường nho nhỏ giữa chốn trần gian vốn nhiều mộng mị.






