Archive for the ‘Travel’ Category

Những câu chuyện bên lề cuộc sống

Saturday, November 14th, 2009

clip_image001 Vé máy bay

Qua một chặng hành trình dài về thăm những miền quê hương, tôi ở lại Buôn Ma Thuột để thu xếp công chuyện riêng. Công việc cũng rất bề bộn và chiếm gần như toàn bộ thời gian cũng như tiền bạc nên cũng chẳng có mấy thời gian để ngao du, ngoạn cảnh. Mặc dù còn rất thích đi đó, đây để xả hơi, nhưng tôi lại bắt đầu nhớ nhà. Nhớ tiếng cu con cứ lâu lâu gọi điện thoại bập bẹ : “ba dề…”. Thế là thu xếp thật nhanh để về. Có anh bạn bảo : mai mốt mình vô sài gòn, sẵn đi với mình luôn cho vui. Sốt ruột nên tôi đành vô trước.

Sau khi chạy vòng quanh nhưng chưa mua được vé, tôi quyết định chuyển sang đi máy bay cho nhanh. Đến phòng vé thì thấy có một người đang đứng trước với dáng vẻ lóng ngóng. Tôi khá rành nơi này nên bước thẳng đến, đẩy cửa để bước vô. Hóa ra, cửa đã bị khóa. Đang loay hoay thì bên trong có người gõ lên kiếng và chỉ lên chổ có dán đề can ghi giờ làm việc. Nó ghi rõ : từ 7h30 đến 11h30. Đang phân vân thì người khách lúc nãy hỏi : “ Đồng hồ anh mấy giờ vậy anh ơi ”. Cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên vì đồng hồ của cả hai người đều chỉ: 11h15’. Hơi bực vì mình đến khá trễ và đã không mua được vé. Nhưng có lẽ cảm giác khó chịu của chúng tôi, chính là thái độ kẻ cả ngay trong giờ làm việc của người nhân viên ấy. Thà rằng cô ấy bảo , hết vé rồi, chúng tôi cũng còn cảm thấy dễ chịu hơn. Không nản, tôi chạy quanh các điểm bán vé xe tư nhân nhưng cũng không có. Nơi có thì lại nói : “ Ngồi ghế súp trên xe giường nằm nha anh?”. Tôi ngạc nhiên vì nếu đã ngồi thì ngồi cả, nằm thì nằm cả chứ? Đầu giờ chiều, tôi vòng qua lại phòng vé máy bay, lần này tôi gặp may vì được gặp một thiên thần hộ mệnh, cô ấy yêu cầu đọc số chứng minh nhân dân và số điện thoại di động : Beng, xong.

(more…)

Qua miền ký ức – Nông trường xanh

Tuesday, November 10th, 2009

Ngày xưa, nơi đây là Đồn Điền cao su Mewal mà người Pháp đã dựng nên. Chốn này được xem là rừng thiêng, nước độc và là nơi hiểm địa nằm ở mạn phía bắc của xã Lạc Giao ( Đình Lạc Giao được xem là điểm mốc trung tâm của thị trấn Ban Mê ngày xưa).

Ảnh minh họa. Nguồn : Nét đẹp đông dương.

Về mặt nghiên cứu và khảo sát Nông Thổ Nhưỡng cũng như địa hình chiến lược thì phải thừa nhận là người Pháp đi trước người Việt hàng thế kỷ. Đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất này tạo nên lợi thế cho hai loại cây công nghiệp dài ngày là cao su và cà phê. Chất lượng mủ nước ( latex ) của cao su ở miền đất này có hàm lượng cao su khô ( DRC – Dried Rubber Content ) rất ổn định. Hạt cà phê trồng ở đây thường có chất lượng nước uống ( cup tasted ) ổn định và thuần khiết nhất trong loạt sản phẩm cà phê của Việt Nam.

Ngày nay, nơi đây đã được kiến thiết lại và được gọi là Nông Trường Cao Su 1 tháng 5.

Tôi trở về thăm lại nơi đây bởi hai lý do :
Trước hết là : Ba tôi đã từng làm phu cạo mủ cho Đồn Điền Mewal.
Sau nữa là : Bản thân minh, tôi đã từng sống, làm việc và có rất nhiều kỷ niệm với vùng đất này.

Nơi đây cũng được xem là chốn nhân duyên, định mệnh của hai cha con tôi bởi con đường để đến làm việc ở đây thì khác nhau, nhưng cũng đều trải dài những năm tháng tươi đẹp nhất của thời thanh niên và cũng đều vì một mục đích duy nhất là kế mưu sinh.

Ba tôi đến đây vì chạy trốn đợt “động viên quân dịch” của người Pháp. Ông vừa lành bệnh sau khi bị giam cầm và tra tấn ở Cù Lao Chàm xong thì lập tức bỏ quê trốn lên đây lập nghiệp. Ông vốn chỉ định mai danh, ẩn tích nên quẩy một gánh phở đi bán rong. Nhưng bố ráp và truy xét giấy căn cước dữ quá, ông đành theo chân đoàn “ mộ phu “ vô tận đồn điền để kiếm cớ sinh nhai.

Với tôi, thì sau khi má tôi mất, mọi thứ trong cuộc đời bổng trở nên vô nghĩa. Điều đó không chỉ đúng đối với riêng tôi mà còn đối với cả gia đình. Đặc biệt suy sụp là người anh trai lớn. Nhà có bốn anh em trai, và mặc dù má tôi nhiều lần động viên mấy anh em nên lập gia đình để bà sớm được bồng cháu nội, nhưng không có ai mặn mà lắm với chuyên này. Anh trai lớn tôi không muốn thừa nhận một sự thật đau lòng rằng bà đã ra đi và cũng không chịu đựng được cái cảnh bốn thằng con trai, mặc đồ tang, chống gậy đi giật lùi trước cỗ xe quan tài. Anh suy sụp như không còn sức sống và kéo lê cuộc đời với nhiều hoang tưởng, mộng mị. Anh rất thương tôi nên sau một thời gian dài không gặp mặt tôi, anh cứ ứa nước mắt hoài và cho rằng tôi cũng đã chết và mọi người xung quanh cứ dấu anh hoài.
Tôi như chim trời gãy cánh, nhưng nhất quyết không để mình gục ngã và lấy công việc làm niềm vui, lao đầu vào để quên đi ngày tháng. Mãi mê làm cho đến ngày nhận được tin báo, tôi suy nghĩ rất lâu và cuối cùng đành gác sang một bên những nỗi niềm riêng, vác ba lô trở về. Tôi không muốn mất mát thêm nữa.
Không hề dự tính trước, nhưng do chuyên môn của mình, tôi lại về làm việc tại nông trường 1/5.
Mặc dù đã được cảnh báo từ trước, tôi vẫn cứ lao đầu vào công việc như một kẻ đam mê. Được cũng nhiều và mất cũng chẳng ít.
Sau khi tập sự một thời gian, tôi được điều về làm phó phụ trách một trong những vườn cao su già của nông trường. Vườn cao su già gần 55 năm tuổi, mang đầy trên mình vết thương của bom đạn chiến tranh. Những người nằm xuống nơi đây thật khó mà tính hết. Suốt những năm tháng chiến tranh, vùng này được xem như “ vành đai trắng ”, hôm nay là thuộc phe bên này, ngày mai lại là phe bên kia nên vườn cây cao su gần như bỏ hoang. Chính vì vậy mà khi đưa cây cao su vào khai thác lại, thì chẳng rõ là do nguyên nhân gì mà nhựa cây cứ tuôn chảy ào ào đến không ngờ. Có lẽ vì vậy mà người Tây gọi nó là Hévéa – nước mắt của cây. Trong vườn, tôi vẫn thấy có rất nhiều những nấm mộ vô danh, của những người đồng bào, của những chiến sỹ cách mạng và cả những người Pháp ( tất nhiên là có bia mộ, tên tuổi thì mới biết đó là người Tây ). Những người công nhân trong đội phải vác vài con dạo cạo đi làm, có con dao dài trên 4m, có khi đang cạo phải bỏ về mài lại dao vì vướng phải mảnh bom, đạn ghim trên thân cây. Sôt rét rừng thì như một căn bệnh trầm kha của rừng già. Nay ốm, mai đau là chuyện thường ngày như cơm bữa. Công nhân trong đội, đa phần là dân tứ xứ nên nay đây, mai đó. Họ sống với tôi một thời gian nhưng những ấn tượng để lại trong nhau chẳng phải dễ quên.

Rừng cao su già

(more…)

Qua miền ký ức – Bãi biển Thanh Bình

Friday, November 6th, 2009

Chẳng biết tự bao giờ, tôi đã yêu biển xanh. Âm thanh của những ngọn gió reo vi vu và những cơn sóng rào rạt xô bờ thường xua tan đi những âu lo, mang đến trong mình cảm giác của sự miên man vô tận và hình ảnh của những lớp lớp sóng đời người cứ trãi dài mãi không ngừng nghỉ. Sau mỗi khi được ngụp lặn dưới ngọn sóng của biển xanh tôi thường có cảm giác thật mới mẻ, như vừa được tắm gội cả về thể xác lẫn tinh thần, như được tiếp thêm một nguồn sinh lực mới cho những ngày mai đang đến.

Biển Thanh Bình, đường Nguyễn Tất Thành và cây cầu Thuận Phước

Nhớ những ngày xưa, khi vẫn còn tá túc ở nơi nhà của người dì. Nhà dì chỉ cách biển có mấy chục bước chân, nên mỗi khi học bài mà bị  “bí ”, hay khi bị mệt mỏi, buồn phiền vu vơ về một chuyện nào đó, tôi vẫn thường mặc mỗi chiếc quần đùi thể thao và lang thang ra với biển. Những ngày ngụp lặn, tắm gội, chạy bộ, đá banh trên cát đã không những giúp cho đầu óc tôi sảng khoái hơn, mà còn mang lại cho tôi một thể lực tuyệt vời. Cũng chính vì tập chạy đua trên cát, nên trong một trận đá banh giao hữu, tôi dẫn banh đột phá từ giữa sân mà không ngờ mình có một tốc độ nhanh đến vậy. Hậu quả là mình và anh chàng thủ môn tránh nhau nhưng không kịp nên đâm sầm vào nhau. Chàng thủ môn nằm lăn bất tỉnh và phải ăn cháo mất một tuần. Mình thì nhìn bên ngoài chẳng sao nhưng quả thật là bị dập xương ngực, không thấy vết thương nhưng máu vẫn chảy ra theo lỗ chân lông. Báo hại tối về phải nằm úp sấp đến ba tháng sau mới thực sự khỏi hẳn. Ba Má tôi biết tôi có khiếu thể thao từ nhỏ, nhưng ông bà không muốn cho tôi theo cái nghiệp này. Vậy nên đành phải chịu trận, chứ nói ra không khéo còn “ăn đòn” chứ chẳng chơi.­ clip_image003.

(more…)

Qua miền ký ức – Quê cha đất tổ

Wednesday, November 4th, 2009

Hôm sau, chúng tôi dậy sớm lên đường bằng xe gắn máy. Ghé chợ nông sản đầu mối cùng uống cà phê, tranh thủ mua một ít trái cây và hoa quả, nhang đèn, rồi theo thẳng hướng đi về phía Điện Bàn.

Đài liệt sỹ huyện Điện Bàn

Thật may và trùng hợp khi chúng tôi chọn cung đường 14B đi Túy Loan vòng sang Đại Lộc, Phong Thử.
Sau khi ghé Nghĩa Trang Hòa Cà thắp nhang cho một số những người thân trong họ tộc bên ngoại, trên đường qua Đại Lộc, chúng tôi mới thấy hết được những hậu quả mà bão lụt đã để lại. Nhiều những tốp thanh niên, nam thanh, nữ tú, quần xắn tới bẹn đang cười đùa vui vẻ, vai vác cuốc và cái nạo bùn cùng nhau xông trận. Nước đã rút nhưng bùn đang ở lại. Có rất nhiều những ngôi nhà mà dấu nước vẫn còn vương lại cho thấy, lúc nước ngập thì chỉ còn có thấy mái nhà, và trường học thì ngập lên đến mái vòm của dãy nhà để xe. Nhà nhà tranh thủ nạo bùn, rửa nước sạch. Và chính ở nơi bùn đất lầy lội nhất, tôi lại thấy một hình ảnh quen quen làm lòng người chợt ấm lại. Đó là hình ảnh của những người lính, cũng quần xắn quá gối, tay cào, tay cuốc. Họ như ta vẫn thường thấy trên truyền hình, luôn sát cánh cùng những người dân trong những lúc khó khăn, hiểm nghèo. Nhìn những người lính trẻ ấy, nhìn những gương mặt sạm đen và những vầng trán đăm chiêu nhưng trên môi thì vẫn giữ được nụ cười thân ái, người dân ai cũng có cảm giác quá quen và quá đỗi gần gũi với họ. Tôi bỗng có một cám xúc hơi lan man nhưng rất thật, họ sẽ chẳng nhận được gì ngoài tấm thịnh tình của những người dân nơi đây. Tuy sẽ chẳng có tờ giấy khen hay tiếng vỗ tay nào dành cho cá nhân của những con người này, nhưng tôi lại thấy họ thực sự xứng đáng với lòng kính trọng, tin yêu mà mọi người dân Việt dành cho họ — Những người đã và đang mang những năm tháng tươi đẹp nhất của đời mình, tạo dựng nên những niềm tin không chỉ cho riêng cá nhân mình mà cho cả một dân tộc.

(more…)

Qua miền ký ức – Đà Nẵng sau cơn phong ba

Friday, October 23rd, 2009

Máy bay dần hạ thấp độ cao, khi trong lòng đang còn vẩn vơ với những câu hỏi. Tại sao lại có những miền đất bé nhỏ mà lại nhiều danh lam thắng cảnh đến thế. Và hỏi tại sao những con người nơi đây, sao lại có cái tình yêu với đất Mẹ sâu đậm đến như vậy? Nơi đây không có những cánh đồng, bạt ngàn xanh tươi như ở lưu vực sông Hồng hay mầu mỡ, phì nhiêu như ở lưu vực sông Cửu Long… Rồi sân bay Đà Nẵng chợt hiện ra dưới một bầu trời đầy mây, u ám, ảm đạm, mưa bay lất phất và không khí se se lạnh. Nhà ga đang sửa sang lại với những cọc bê tông chơi vơi giữa lưng chừng trời đất. Đà nẵng đón Tết Trung Thu trong một không khí thâm trầm, lặng lẽ.

Tết trung thu lặng lẽ

Thật tình cờ, các bạn trong Sài Gòn liên lạc và biết được tôi đang ở Đà Nẵng. Thế là điện thoại réo liên tục, hỏi thăm tình hình thực tế ngoài đó, và vì nghe báo đài nói nhiều nhưng không rõ thực hư ra sao. Vậy mới biết, trong những ngày thấp thỏm và gian nan chống đỡ với cơn thịnh nộ của đất trời, từ trong đáy lòng, hàng triệu con tim người Việt vẫn đang hướng về để chia sẻ với những người dân nơi đây. Chỉ có lời từ trái tim mới đến được tới trái tim.

(more…)